Lịch sử hình thành và phát triển

Tân Ước là xã thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng, nằm ở phía nam huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội. Nhân dân Tân Ước có truyền thống cần cù trong lao động, kiên cường trong đấu tranh, luôn đoàn kết cùng nhau xây dựng quê hương. Dưới ánh sáng của Đảng, phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ngày càng phát triển, góp phần vào thắng lợi chung của cả nước

Xã Tân Ước là xã có địa hình khá bằng phẳng, trong quá trình chinh phục và cải tạo tự nhiên, nhân dân đã ra sức khắc phục mọi khó khăn, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển hệ thống tưới tiêu nhằm thúc đẩy sản xuất nông nghiệp cũng như xây dựng phát triển cơ sở hạ tầng. Đây là tiền đề quan trọng để Tân Ước mở hướng vào lĩnh vực nông nghiệp đa cây, đa con và bền vững hơn. Toàn xã có tổng diện tích đất tự nhiên là 870,05 ha, trong đó đất nông nghiệp là 665,91 ha, đất phi nông nghiệp là 203,64 ha và đất chưa sử dụng là 0,5 ha. Nằm trong dòng chảy của nền văn minh lúa nước, nền kinh tế chủ đạo của xã Tân Ước là sản xuất nông nghiệp. Trong những năm qua nhờ sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Đảng ủy, chính quyền cùng sự nỗ lực phấn đấu của nhân dân, Tân Ước đã khắc phục những khó khăn về thời tiết, sâu bệnh, áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, mở rộng diện tích cây trồng, tăng thêm mùa vụ, từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng đất và tăng năng xuất cây trồng. Hiện nay cây lúa vẫn là cây trồng chính của xã, chiếm 90% diện tích đất nông nghiệp, còn lại là các cây lương thực khác. Tổng sản lượng lương thực cả năm qui thóc đạt trên 7000 tấn, bình quân lương thực đầu người đạt trên 900kg, giá trị canh tác đạt bình quân lương thực đầu người đạt gần 56 triệu đồng /ha. Hệ số sử dụng đất đạt 2,3 lần. Bên cạnh việc phát triển ngành trồng trọt,Tân Ước còn tiếp tục chú trọng đầu tư vào chăn nuôi. Chăn nuôi chiếm 25% giá trị sản xuất nông nghiệp, diện tích nuôi trồng thủy sản là 31,35 ha, sản lượng đạt 250 tấn/năm.

Xã Tân Ước có 4 thôn, làng: Ước Lễ, Tri Lễ, Phúc Thụy, Quế Sơn và hai khu dân cư với 1.930 hộ (8.367 khẩu). Mỗi thôn đều có những nét đặc trưng riêng về lịch sử, văn hóa.

Xã có làng nghề truyền thống giò chả, làm nón mũ lá thu hút 70-80% số lao động sản xuất, mang lại hiệu quả kinh tế cao.

 Đến nay, Tân Ước đã xây dựng được hệ thống cơ sở hạ tầng tương đối hoàn chỉnh, đáp ứng được yêu cầu phát triển trong tình hình mới. Hệ thống giao thông liên thôn, liên xã được mở rộng và bê tông hóa. Công tác y tế, giáo dục, văn hóa thể thao có nhiều tiến bộ và đang từng bước phát triển. Đời sống vật chất tinh thần của người dân Tân Ước ngày càng được nâng cao, chất lượng cuộc sống được cải thiện rõ nét và bền vững.
1. Truyền thống lịch sử - văn hóa

a. Truyền thồng Lịch sử

 Là vùng đất nằm ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ, lại được thiên nhiên ưu đãi, Tân Ước sớm trở thành điểm dừng chân trong quá trình di cư từ vùng trung du xuống đồng bằng của người Việt cổ.Trước kia khi làng xã còn chưa có tên gọi thì nơi đây chỉ là những điểm quần cư  nhỏ tập trung ở vùng đất cao ven sông, ven ô trũng. Ngày 19-4-1987 trong khi đi làm thủy lợi, nhân dân Tân Ước phát hiện được một chiếc trống đồng cổ.Qua nghiên cứu, các nhà khảo cổ đã khẳng định đó là di vật của người Việt cổ thời Hùng Vương, có niên đại cách ngày nay khoảng 2350 năm. Như vậy có thể thấy Tân Ước là xã có lịch sử hình thành từ lâu đời

Nằm trong dòng chảy của lịch sử, Tân Ước là một vùng quê giàu truyền thống cách mạng.  Trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ( xem tư liệu). Ngày 28-8 -1945 các bộ Việt Minh đã xuống làng Ước Lễ và Tri Lễ tổ chức tuyên truyền và vận động bà con nhân dân các thôn ra đình dự mít tinh. Tại cuộc mít tinh, cán bộ Việt Min đã truyền đạt lệnh tổng khởi nghĩa của tỉnh Hà Đông và tuyên bố giải tán chính quyền cũ. Như vậy việc giành chính quyền ở Tân Ước diễn ra hết sức nhanh gọn và không đổ máu. Sau khi đập tan bộ máy cai trị cũ, chính quyền mới đã thực hiện chia lại ruộng đất cho nhân dân, xóa bỏ mê tín dị đoan, thực hiện nam nữ bình đẳng.Từ đây nhân dân Tân Ước đã đứng lên làm chủ vận mệnh của mình, làm chủ quê hương, cùng với nhân dân cả  nướcđoàn kết đấu tranh bảo vệ thành quả của cách mạng vừa mới giành được.

 Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Tân Ước kiên cường đấu tranh bảo vệ nền độc lập dân tộc. Trong trận chiến đấu, chống càn ròng rã và vô cùng ác liệt, bộ đội và du kích ta phải chịu đựng hàng chục tấn bom na pan, bom phá và đạn pháo của địch để giữ vững trận địa, đẩy lùi nhiều đợt tấn công của chúng. Kết quả trận chống càn Quế Sơn, ta đã tiêu diệt trên 300 tên lính Âu-Phi, bắn bị thương nhiều tên lính khác, địch phải dùng 6 máy bay trực thăng và 10 xe hồng thập tự và bắt thêm nhiều xe hàng khác vận chuyển số quân bị tiêu diệt và bị thương về nơi khác. Với thắng lợi trong trận chống càn ở Quế Sơn, đã làm nức lòng nhân dân cả nước, càng khâm phục tinh thần chiến đấu kiên cường của bộ đội, du kích. Để biểu dương tinh thần chiến đấu của nhân dân Tân Ước, mặt trận Liên Việt tặng 4 chữ “ Quế Sơn oai hùng, nhằm ghi nhận sự hi sinh anh dũng và tinh thần quả cảm của con người nơi đây. Đồng thời khích lệ tinh thần của nhân dân đứng lên chiến đấu chống thực dân Pháp xâm lược.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, nhân dân Tân Ước dước sự lãnh đạo của  Đảng, tập trung phát triển kinh tế - xã hội, tích cực chi viện cho tuyền tuyến, góp phần giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước. Nhận thức rõ cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là nhiệm vụ thiêng liêng của cả dân tộc, Đảng bộ xã đã lãnh đạo, tổ chức tốt các đợt tuyển quân đưa thanh niên vào chiến trường, người ở hậu phương hăng say lao động sản xuất sẵn sàng chi viện sức người, sức của cho tuyền tuyến. Ngày 17/6/1966, khi máy bay Mỹ đánh phá thủ đô Hà Nội, một chiếc bị trúng đạn của bộ đội ta, bốc cháy rơi xuống cánh đồng Cửa Xanh xã Tân Ước. Tên giặc lái vừa chạm chân xuống đất, đã bị dân quân Tân Ước bắt sống. Đây là chiến công đầu tiên của quân dân Tân Ước, chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ xâm lược.

Trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Tân Ước đã có 786 thanh niên lên đường nhập ngũ, 168 người con của Tân Ước đã anh dũng hi sinh vì nền độc lập tự do của Tổ Quốc. Trong kháng chiến chống Mỹ, Đảng bộ và nhân dân Tân Ước đã được Đảng và nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng ba, 4 huân chương độc lập và nhiều phần thưởng cao quí khác. Đáng tự hào hơn khi Tân Ước có 2 người con trở thành anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, tô thắm thêm truyền thống đánh giặc giữ nước của quê hương. Đó là liệt sỹ, thiếu tướng Nguyễn Kim Tuấn, ở thôn Phúc Thụy. Đại tá Nguyễn Trọng Đắc, ở thôn Tri Lễ. Vinh dự hơn xã có 6 bà mẹ ViệtNamanh hùng.

Trên bước đường đổi mới, Đảng bộ xã Tân ước không ngừng tìm tòi, xây dựng những mô hình phát huy hiệu quả, tiềm năng thế mạnh của quê hương, không ngừng nâng cao tiềm lực kinh tế của địa phương, chăm lo đời sống nhân dân, tạo ra điều kiện cơ bản để tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

b. Truyền thống văn hóa - làng nghề
* Thôn Tri Lễ

Nằm ở phía TâyNamcủa xã Tân Ước có diện tích tự nhiên là 308,6 ha; dân số là 370 người, là nơi sinh sống của 23 dòng họ. Thôn Tri Lễ có cách đây khoảng 660 năm, trước đây là hai làng Tri Mô và Cổ Lễ.

Cư dân chủ yếu sống bằng nghề nông. Tuy nhiên, nhiều người còn biết đến Tri Lễ như một làng nghề làm mũ nón nổi tiếng. Nghề làm mũ nón lá ở làng Tri Lễ đã có cách nay hàng thế kỷ. Mũ nón Tri Lễ đều do các hộ làm hoàn toàn bằng thủ công với nhiều công đoạn khác nhau.

Ngày trước nguyên liệu mua về rất khó khăn chủ yếu là người làng lên tận vùng núi mua từng bó gánh về làm dần. Nhưng hiện nay lá cọ hay còn gọi là lá già cùng mo tre, nứa được mua từ Tuyên Quang, Thái Nguyên và vận chuyển bằng ô tô nên nguồn nguyên liệu dự trữ đảm bảo cho người dân yên tâm làm mũ, nón.

Mũ nón ở Tri Lễ cũng khá đa dạng, bên cạnh mũ nón quai thao, Xuân Kiều, nón mẹt truyền thống, trong thời gian gần đây còn xuất hiện mũ Lâm Xung, đây là loại mũ được thị trường ưa chuộng và tiêu thụ nhanh.

Khác biệt của làng nghề mũ nón lá Tri Lễ đó là sản phẩm không được quảng bá nhiều nhưng có lẽ “Hữu xạ tự nhiên hương” nên mũ, nón ở đây được thị trường khá ưa chuộng. Mũ nón lá của Tri Lễ hiện được xuất đi hàng chục tỉnh, thành trong cả nước và các nước trong khu vực như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản...

Trung bình mức thu nhập của những người hoạt động thường xuyên và sống bằng nghề chỉ ở mức khoảng 700.000đồng/tháng”. Tuy mức sống chưa cao nhưng công việc nhàn hạ và nhiều ưu điểm: Ít phải ra đường nên người dân không tốn tiền xăng, ít hao mòn xe, cộ, đỡ lo tai nạn, bà con có điều kiện hội họp, truyện trò, trao đổi kinh nghiệm cuộc sống. Trẻ con có mục đích trong những giờ nghỉ, ngày nghỉ học, đỡ chơi điện tử, chát chít, đàn đúm. Hơn nữa, do đặc thù công việc không sử dụng đến nước và bất kỳ chất hóa học độc hại nào; khả năng tận dụng nguyên liệu cao (lá to, dài làm nón, mũ to; lá nhỏ làm mũ truyền thống, mũ đồ chơi phục vụ du lịch) nên vấn đề môi trường làng nghề ở Tri Lễ chưa bao giờ được đề cập đến vì quá trong lành.

  Ngoài việc làm mũ nón, một số lao động của thôn còn đi lamg nghề xây dựng hoặc bán giò chả thuê trong những này nông nhàn.
Thôn Quế Sơn

Thôn Quế Sơn xưa kia là vùng đất màu mỡ, khí hậu ôn hòa, động thực vật phong phú nhất là hai loại cây là cây quế và cây sơn. Vì vậy, khi con người tới đây sinh sống và lập nghiệp đã đặt tên là vùng đất Quế Sơn. Quế Sơn gồm hai xóm Tây và Đông với diện tích là 154,3 ha và dân số là 1620 người.

Từ xưa đến nay, hoạt động kinh tế chủ yếu của nhân dân Quế Sơn là làm ruộng . Tuy nhiên trong những lúc nông nhàn, để tạo thêm nguồn thu nhập, một số gia đình còn làm thêm nghề phụ như đan khua và rèn.

Nghề đan khua bắt đầu xuất hiện ở Quế Sơn từ những năm 50 của thế kỉ XIX và thịnh hành vào cuối thế kỉ XIX và đầu thế kỉ XX. Sau hòa binh lập lại nghề đan khua ngày càng mai một và tới nay thì mất hẳn.

Sau khi học nghề ở Đa Sỹ ( Hà Đông) nghề rèn được cụ Nguyễn Đình Phán đem về làng, mở cửa hang rèn đao, hái , liềm. Đến nay nghề rèn truyền thống vẫn được con cháu Quế Sơn duy trì và mở rộng.

Quế Sơn là làng nằm liền kề với Tri Lễ nên ngày nay ngoài nghề truyền thống là rèn sắt thì nhân dân Quế Sơn còn làm nghề phụ đó là nón mũ giống như của Tri Lễ.

* Thôn Phúc Thụy

Nằm ở Trung tâm của xã Tân Ước, vốn là hai làng cổ Phúc Lâm và Minh Thụy

hợp thành. Xư kia làng còn được gọi nôm là làng Chảy.Diện tích của thôn là 154 ha với dân số là 1344 dân. Đây là thôn có hai tôn giáo cùng tồn tại là đạo Phatah và thiên chúa giáo.

Đại đa số dân Phúc Thụy sống bằng nghề nông nghiệp. Ngoài ra còn một số làm nghề giò chả, may mặc, dệt tơ tằm…Riêng nghề giò chả của thôn nổi tiếng với thương hiệu giò chả truyền thống có từ lâu đời. Trong thôn, có gia đình cụ Hoàng Đình Cầm được đi thi Hội thi thương mại ẩm thực giò chả tại nước Pháp năm 1914 và giành huy chương bạc. Từ đó đến nay, nhân dân vẫn lưu truyền và phát triển nghề trên cả nước và sang một số nước trên thế giới. Ngày 3 tháng 6 năm 2008, chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tây đã cấp bằng công nhận làng nghề giò chả truyền thống của thôn Phúc Thụy.

Phúc Thụy tuy có nhiều họ tộc và tín ngưỡng khác nhau nhưng nhân dân nơi đây luôn đoàn kết, chung sức đồng lòng, giúp đỡ nhau vượt qua khó khăn.Ngày 6 tháng 2 năm 2006 thôn Phúc Thụy được cấp bằng công nhận là làng văn hóa và từ đó đến nay, thôn luôn giữ vững danh hiệu làng văn hóa.

* Thôn Ước Lễ

Ước Lễ có diện tích là 242,5 ha và dân số là 1701 người. Làng Ước Lễ  là một làng quê nhỏ bé thuần nông đặc trưng của một làng quê cổ đồng bằng Bắc bộ có một quần thể di tích lịch sử hàng ngàn năm. Trong đình làng còn lưu giữ được nhiều đồ thờ rất có giá trị. Đặc biệt có Thần tích làng Ước Lễ đã được phiên âm và dịch nghĩa.

SỰ TÍCH LỮ NAM ĐẾ
Thần họ Lữ Húy Gia, người xã Thiên Phúc (nay đổi là Đa Phúc) huyện Ninh Sơn (đời Lê Trang Tôn đổi là Yên Sơn), làm quan triều Triệu Văn Vương, đến khi Minh Vương lên ngôi, ông được ban chức Thái phó.
Lúc đầu, khi Minh Vương còn là Thái tử, vào làm con tin bên nhà Hán sống ở Trường An, lấy bà Cù Thị ở Hàm Đan, sinh được một người con trai tên là Hưng. Đến khi Minh Vương lên ngôi, nhân giữ bảo tỉ của Tiên đế, đã dâng thư cho nhà Hán xin lập bà họ Cù làm hoàng hậu, con trai Hưng làm Thái tử. Nhà Hán nhiều lần sai sứ giả dụ Minh Vương vào triều. Minh Vương đã cáo bệnh không chịu nghe theo. Đến khi con trai Hưng đã lập tôn bà họ Cù làm hoàng hậu. Nguyên khi bà họ Cù chưa lấy Minh Vương, bà thường đi lại với Thiếu Quý An Quốc người Bá Lăng.
Năm Nguyên Đỉnh thứ 4 đời Vũ Đế nhà Hán đã sai Thiếu Quý đến dụ Hưng và hoàng hậu Cù Thị vào triều. Đến khi sang nước Việt, Thiếu Quý lại tư thông với bà. Người trong nước biết chuyện đó, nhiều người không ủng hộ. Cù Hậu tức giận, muốn dựa vào thế nhà Hán, nhiều lần khuyên Hưng và các quần thần qui phục. Thế rồi nhân sứ giả nhà Hán đến, liền dâng thư xin được theo qui chế đối với các nước chư hầu ba năm một lần triều cống, vua nhà Hán chấp thuận, liền ban ấn bạc cho Hưng và Thừa tướng Lữ Gia. Năm sau, Hưng và và Cù Hậu đã sắm sửa hành trang của cải châu báu đầy đủ để nhập triều.
Lúc đó, Thừa tướng Lữ Gia tuổi đã cao, làm Thừa tướng trải qua ba triều, tôn tộc đều làm trưởng lại đại thần, tất cả hơn 70 người. Con trai thì lấy công chúa, con gái đều gả cho con em các nhà vương gia. Ngày ấy, họ Lữ giữ quyền rất lớn, người trong nước tin theo, còn lớn hơn cả người theo vua Triệu. Lữ Gia đã nhiều lần can ngăn Hưng không nên qui phục nhà Hán, nhưng Hưng không nghe, nên đã nhiều lần cáo bệnh không muốn gặp sứ giả.
Sứ giả nhà Hán đều để ý đến Lữ Gia. Cù Hậu bèn bầy tiệc rượu mời sứ giả nhà Hán đến, âm mưu trừ khử Lữ Gia. Sứ giả đến uống rượu, các đại thần đều đến uống rượu. Sứ giả ngồi phía đông, Cù Hậu ngồi ở phía nam, Hưng và các tướng đều ngồi ở phía tây. Em trai Lữ Gia là Lữ Cường làm tướng, đem binh sĩ đến ngoài cung uống rượu.
Cù Hậu nói với Lữ Gia rằng: “Nam Việt nội phục nhà Hán là có lợi, tướng quân không muốn là cớ làm sao?”. Nói vậy là có ý khích sứ giả nhà Hán, nhưng sứ giả hồ nghi không dám chống cự.
Lữ Gia thấy sự việc không hay liền bỏ đi. Cù Hậu tức giận muốn cầm mâu đâm Lữ Gia, nhưng Hưng cản lại. Lữ Gia đi ra, sai em trai mang quân đến phủ đệ riêng ở Trúc Viên Sài Sơn, cáo bệnh không gặp sứ giả.
Cù Hậu muốn giết Lữ Gia nhưng không giết nổi. Hán Vũ Đế cho rằng: “Hưng và Cù Hậu đã quy phục, chỉ còn Lữ Gia là không chịu nghe theo, nên không muốn mang quân sang đánh, muốn sai tướng là Trang Sâm mang 2000 quân đi sứ.
Trang Sâm nói: “Nếu có ý tốt thì mang vài người là đủ, còn nếu dùng vũ lực mà đem 2000 người thì chẳng làm gì được”. Tướng ở Tế Bắc là Hàn Thiên Thu hăng hái nói rằng: “Chỉ có nước Nam Việt bé tí tẹo thế, lại có thêm Hưng và Cù Hậu làm nội ứng rồi, thì thần chỉ xin đem theo 300 dũng sĩ sang sẽ bắt được Lữ Gia đem về đền ơn vua”. Thế là nhà Hán liền cử Hàn Thiên Thu và em trai Cù Hậu là Cù Lạc đem 2000 quân sang đất Việt.
Thừa tướng Lữ Gia liền ban lệnh cho dân cả nước rằng: “Vua Triệu nhỏ tuổi, Cù Hậu vốn là người Hán, đã từng dâm loạn với sứ nhà Hán, chỉ muốn nội phụ nhà Hán, lại mang tất cả bảo khí của Tiên Đế để sang cống vua Hán để lấy lòng, lại sai tôi tớ đem vàng bạc đến Trường An bán kiếm lời. Họ chỉ giữ mối lợi nhất thời, chẳng đoái hoài đến giang sơn xã tắc nhà Triệu”. Thế rồi sai tướng đến đánh, giết chết cả Hưng, Cù Hậu và sứ giả nhà Hán. Lại cho người đến nói với Tần Vương ở Thương Ngô, xin cho lập con cả của Triệu Minh Vương là Kiến Đức làm vua Nam Việt.
Kiến Đức lên ngôi thì Hàn Thiên Thu đem quân đến xâm phạm bờ cõi, phá tan mấy làng ấp. Lữ Gia liền mở đường, cấp lương cho binh sĩ, đặt đồn lũy đến tận Phiên Ngung dài 40 dặm, đem quân đánh giết chết Hàn Thiên Thu, treo cờ tiết nhà Hán lên trên ải. Sau đó lại chất đá làm cửa, chống lại quân Hán. Nhà Hán sai Lâu Thuyền tướng quân đến chặn giữ các nơi hiểm yếu, lại sai bọn Lộ Bác Đức, Dương Bộc đem mấy vạn quân đến công phá cửa đá, đánh bại quân Việt. Kiến Đức và Lữ Gia đem mấy trăm quân đi thuyền chạy ra biển. Thế là nhà Triệu đã bị bọn Lộ Bác Đức, Dương Bộc dẹp yên.
Tương truyền, Lữ Gia đánh nhau với quân Hán, bị thua lại bị quân Hán chém cụt đầu. Ngài vẫn ngồi trên lưng ngựa, chạy mãi đến địa giới xã Đăng Ngỗi huyện Thiên Bản (nay là huyện Vụ Bản), gặp đám phụ nữ đi qua, họ đều nói: “Xưa nay người không có đầu lại có thể sống được chẳng?”. Thế là Người liền ngã ngựa mà hóa. Ngài rất linh thiêng, các đời vua đều phong tặng, trong đó có ý tán thán rằng: “Lữ Nam Đế đã tỏ rõ tài năng dám chống lại nhà Hán”.
Người đời sau từng ca ngợi: “Riêng một mình chẳng coi được ấn tín nhà Hán làm vinh hạnh, nên rõ ràng không thuận tiện cho kẻ quy phụ, thế thì há bảo là không trí được chăng? Chém Thiếu Quý diệt Thiên Thu bỏ cờ tiết nhà Hán, chiếm cứ nơi hiểm yếu, như thế há bảo rằng không dũng mãnh hay sao? Phế một vua lập một vua, chỉ biết thờ con cháu Vũ Đế, giữ gìn xã tắc nhà Triệu, sống chết vì đất nước, như thế há bảo rằng không có nghĩa được hay sao?”.
Từ xưa đến nay nhân dân các nơi thờ phụng rất là tôn kính, hễ có cầu khấn điều gì đều rất linh nghiệm.

CỔNG LÀNG ƯỚC LỄ

Cổng làng Ước Lễ đã có từ lâu đời. Trước cổng làng là chiếc cầu cong rộng hơn 2 mét, dài khoảng 10 mét. Cầu bắc qua con mương khá rộng. Xưa kia con mương này là hào sâu vây quanh làng, trên bờ phía làng là hàng tre quanh năm xanh tốt tạo thành thế tường cao hào sâu rào chắc chắn để chống cướp vào làng. Sau này dân làng đã mở thêm nhiều lối ra đồng thuận tiện cho việc đi lại làm ăn.

Trên gác cổng làng có treo bức đại tự: “Mỹ Tục Khả Phong” nghĩa là Phong tục đẹp được ban tặng. Tương truyền vào năm Tự Đức thứ 33 (năm Canh Thìn 1880), vua Tự Đức kinh lí phương bắc đã ban tặng danh hiệu “Mỹ Tục Khả Phong” cho 6 làng của Hà Tây, trong đó có làng Ước Lễ.

Trong Kháng chiến chống Pháp, quân Pháp thường xuyên bắn đại bác vào làng, bắn trúng làm đổ sập gác cổng làng. Tấm đại tự bị vỡ, dân làng đành gỡ cất đi. Vào một năm úng lụt lớn, dân làng phải huy động mọi thứ để chống đỡ. Một số bà con không biết đã lấy bức đại tự này để ngăn chặn dòng nước lớn tấn công vào qua cổng làng. Trong cơn nguy khốn đó, dòng nước hung dữ đã cuốn trôi mất tấm Mỹ Tục Khả Phong nguyên bản.

Hòa bình lập lại, dân làng tu sửa phục chế lại gác cổng làng. Năm 1999, các cụ già làng đã nhờ Viện Nghiên cứu Hán Nôm lấy mẫu chữ của một làng khác còn giữ lại được, theo đó làm mới lại và treo bức đại tự vào đúng vị trí lịch sử của nó.

TRƯỜNG HỌC CỔ LÀNG ƯỚC LỄ
Đi quá giữa làng Ước Lễ, bên tay phải ta sẽ tìm thấy ngôi Trường học cổ được xây dựng từ năm Đinh Mão 1927. Trải qua nhiều biến cố lịch sử thật may mà dân làng vẫn giữ được nguyên vẹn công trình mang đậm ý nghĩa truyền thống Văn hóa và Lịch sử Làng Ước Lễ. Từ nơi Ngôi trường cổ này nhiều người con Ước Lễ đã thành tài, thành danh. Nhiều giáo sư, bác sĩ giỏi là người làng Ước Lễ làm việc và công hiến tài năng của mình trong nhiều bệnh viện tại Hà Nội như giáo sư bác sĩ Nguyễn Như Bằng, bác sĩ Nguyễn Thành Vân bệnh viện Việt Đức. Giáo sư Bác sĩ Nguyễn Như Bằng là con trai cụ Nguyễn Như Loan tức cụ Đốc Loan là Hội trưởng Ước Lễ Đồng hương Tiến ích Hội từ năm 1952. 1989 Giáo sư Bác sĩ Nguyễn Như Bằng được tặng danh hiệu Thầy thuốc ưu tú và năm 1995 được tặng danh hiệu Thầy thuốc Nhân dân...

ĐÌNH LÀNG ƯỚC LỄ
Qua cổng làng Ước Lễ ngay bên phải là Đình làng Ước Lễ. Cổng đình nay đã được dân làng mới dựng bằng đá. Bước lên chín bậc hai bên là đôi rồng bằng đá mới là sân đình. Bên phải là Tam Bảo có tấm bình phong đá mới được dân làng kiến tạo năm 2012. Bước lên thềm Đình nhìn lên mái là các phù điều mô tả phong cảnh sinh hoạt đời xưa rất sinh động, dưới củng Đình có 5 bài thơ trâm.
Qua cửa đình làng là các bộ câu đối khảm trai trên các cột đình, năm 1985 bọn xấu trộm ra đầu làng cậy lấy trai. May mắn dân làng phát hiện và cứu lại được. 1995 được phục hồi trở lại đẹp như xưa. Các câu đối đó ca ngợi tinh thần bất khuất và công đức của người anh hùng dân tộc có thật trong lịch sử:
Trung Chính Anh Linh
Thành bại hung suy do vận hội buồn buồn thảm thảm để tiếng anh hung còn muôn thủa.
Non Song Xã tắc gánh nặng vai liệt liệt oanh oanh giương cờ độc lập nước Nam ta.

Non sông nước Việt vẫn còn mãi hào khí ở người vũ trụ xưa nay thơm nức tiếng.
Xã tắc nhà Triệu gánh nặng vai chung lòng giúp nước anh hùng thành bại có hề chi.
Lòng trung dồn một kiếm giáo gươm quân Hán mắt coi khinh.
Ngồi cao nhất ba triều sông núi Triệu vương thêm kính trọng...

Bên trong Đình là các bức đại tự:
Đức Quảng Uy Nham – Đạo Đức Rộng Rãi, Trung Chính Anh Linh – Lòng Trung Chính nghĩa Anh linh, Nhân Cao Hách Trạc – Lòng Nhân nghĩa Cao cả Hiển hách, Liễm Phúc Tích Dân – Góp Phúc Đức cho Dân, Thánh Thọ Vô Cương - Chúc Đức Thánh Sống Mãi…
Trước Hậu cung hai bên trái và phải là ngựa tế đỏ và trắng.
Bên trong Hậu cung gian giữa là Ban thờ Tể tướng Lữ Gia – Thánh Thành Hoàng Làng Ước Lễ. Gian trái là ban thờ 2 chị em công chúa đều là phu nhân của Tể Tướng: Bảo Huệ Công chúa phu nhân và Ngọc Dung Công chúa Phu nhân. Gian phải là ban thờ 3 vị tướng quân của Tể tướng Lữ Gia:
Tượng trái: Đương Cảnh Đống Đuối Thành Hoàng.
Tượng giữa: Đương Cảnh Thái Tạng Thành Hoàng.
Tượng phải: Đương Cảnh Đống Sật Tướng Quân.
Đền Trình (còn gọi là Đền Chợ)
Đi ngang qua cổng Đình chừng 50 mét bên trái là Đền Trình dưới bên cây đa cổ thụ. Đây là nơi thờ tự Ngài Đương Cảnh Thái tạng Thành Hoàng. Xưa Ngài là Tướng Tiên phong của Tể tướng Lữ Gia.
CHUÀ SỔ

Chùa Sổ hay còn gọi là Hội Lim quán ở thôn Ước Lễ, xã Tân Ước, huyện Thanh Oai, theo sự tích và truyền thuyết chùa có từ đời Lý Trần những dấu tích vật chất như văn bia, gạch thời Mạc đã khẳng định được niêm đại tuyệt đối của chùa Sổ là năm (1527), cách ngày nay gần 500 năm.

Đến thời Lê Trung Hưng, Đức Long năm thứ 7 (1634) di tích lại được tu sửa lớn bề thế khang trang do Đô đốc Quận công Đào Công Hoa hưng công tu sửa, sang triều Nguyễn năm Thành Thái thứ 5 (1901) chùa được tu sửa và dựng thêm tiền đường, hai dãy hành lang, nhà bia tạo thành tổng thể kiến trúc liên hoàn theo kiểu nội công ngoại quốc.

 

Hiện nay chùa Sổ không những là di tích lịch sử kiến trúc nghệ thuật góp phần quan trọng trong việc cung cấp tư liệu của nhiều ngành khoa học khác mà còn là giá trị nổi bật  tiêu biểu của nền kiến trúc nghệ thuật của dân tộc ta ở thế kỷ thứ XVII, với mỗi viên gạch cổ, cỡ to, mỗi viên mỗi kiểu, long, ly, quy, phượng được xem như những tác phẩm nghệ thuật hiếm và quý, phản ánh tâm hồn của ông cha ta đa dạng và phong phú vô cùng.

Trải qua biến động của thời gian, ảnh hưởng của bom đạn chiến tranh lại không được tu sửa kịp thời nên nhiều hạng mục trong khuôn viên chùa hiện đang bị xuống cấp, hư hỏng nặng. Theo quan sát của phóng viên: Từ ngoại tự cho đến nội tự, gác chuông, hệ thống cửa và tường bao quanh chùa đã bị vỡ nứt, bong tróc. Gần như toàn bộ hệ thống rui kèo, cột chống bị mối mọt ăn xuyên tâm khiến cho mái ngói chỗ thì xô lệch, chỗ thì võng thủng… có thể sụp đổ bất cứ lúc nào

NGHỀ GIÒ CHẢ

Về nghề làm giò chả, nhiều người cứ nghĩ rằng là một nghề mới có ở Tân Ước. Thực ra, đây cũng là một nghề cổ truyền, cũng được khởi phát lên từ ba làng Chảy, mà đầu tiên là từ làng Ước Lễ. Chính ở làng này có cánh đồng với tên gọi rất cổ, là đồng Quai Giò, đồng Dọc Giò, có liên quan xa xôi tới nghề giò chả.

Trong tâm thức người dân Ước Lễ, thủy tổ nghề làm giò chả là Lang Liêu, trong sách Lĩnh Nam chích quái ghi là Tiết Liêu, con trai thứ 18 của vua Hùng, đã dùng gạo nếp, đỗ xanh, thịt lợn để làm nên bánh chưng, bánh dầy. Học cách chế tạo bánh chưng, rồi biết làm nên thứ “bánh” chỉ làm bằng thịt lợn, là giò, chả. Có nhà nghiên cứu cho rằng, vùng ba làng Chảy có dòng sông Đỗ Động chảy qua thuở trước, vào thế kỷ XV, là nơi nghĩa quân Lam Sơn ở, sau tiến đánh trận Tốt Động - Chúc Động vang lừng trong lịch sử. Và dân chúng đã gói những quả giò đầu tiên cho nghĩa quân Lam Sơn.

Đến nay, Kẻ Chảy vẫn còn một giếng nước rất trong ở cánh đồng Vượng, gần chùa Sổ, tên chữ là quán Linh Quân. Tương truyền, giếng nước đó là cái huyệt của làng. Các cụ cố lão vẫn cho rằng, giếng nước đó biểu tượng chiếc cối giã giò. Còn theo thuyết phong thuỷ, đó là nguồn nước đan sa vô tận từ lòng đất đùn lên, khiến nghề giò thịnh vượng.

Từ lâu đời, rằm tháng Giêng hằng năm, làng Ước Lễ mở lễ hội rất lớn, gọi là tết Thượng Nguyên. Lễ hội quán Linh Quân bao giờ cũng có nghi thức ra thăm giếng đồng Vượng, huyệt mạch mang biểu trưng cái cối giã giò, là để nhớ về cội nguồn và khiến người vùng quê này nhắc nhau giữ gìn truyền thống tốt đẹp của làng. Từ Ước Lễ, nghề giò chả lan sang các làng trong cả xã Tân Ước, do vậy mà xưa kia người ta nói “giò chả Ước Lễ”; còn từ thế kỷ XX trở đi, đời sống tiêu dùng phát triển nhiều, người ta nói “giò chả Tân Ước”. Dù các làng trong xã Tân Ước đều có nghề làm giò chả, nhưng nghề này không phải là nghề làm đại trà, mà nặng về sự tinh sâu kinh nghiệm của từng gia đình. Tính toàn xã có 2000 hộ, lúc cao nhất chỉ có 4% số hộ gia đình làm nghề giò chả. Chỉ với chừng ấy hộ ở quê và vài trăm người làng ra ngoài thiên hạ làm nghề giò chả, mà khiến thiên hạ biết đến tiếng thơm của một xã! Điều đó cho thấy “nhất nghệ tinh” mới là quan trọng.

Về nghề giò, người Tân Ước làm nhiều loại giò, như giò mỡ, giò bì, giò ép… đều ngon, nhưng ngon nổi tiếng là giò lụa. Từ khâu chọn lợn để thịt, khâu giã thịt và pha chế gia vị; từ chọn lá chuối để gói giò cho đến chọn loại nước để luộc và tính thời gian luộc giò… tất cả đều phải theo chuẩn của Tân Ước.

Như vậy, khi dùng dao cắt ngang quả giò chín, mặt giò tròn vạch, ướt nhưng không dính dao, miếng giò phơi màu trắng nuột hơi hồng như màu lụa tơ tằm, không gợn chút hạt mỡ, dây gân. Có phải vì thế mà dân gian gọi là giò lụa chăng? Nghề chả cũng vậy, chả quế Tân Ước là món thượng hảo hạng. Khi thịt đùi giã nhuyễn thì người thợ thúc thêm một lượng bột quế và nước mắm ngon. Đến khâu nướng, rất cần kỹ thuật phết nước hoa hiên trộn mật ong lên mặt chả. Bởi thế, miếng chả quế Tân Ước thơm bùi thịt nạc, lại thơm cay của quế, thơm ngọt mật ong và phảng phất mùi thơm quý phái của hoa hiên…

Giò chả Tân Ước là nghề tinh hoa của một vùng quê giàu truyền thống văn hoá, mà phải qua nhiều đời tích luỹ kinh nghiệm mới tạo nên được nghề hay đến vậy. Từ làng Ước Lễ, nghề giò lan rộng ra khắp Kẻ Chảy, rộng ra toàn xã. Rồi từ Ước Lễ và Tân Ước, đã xuất khẩu lao động nghề giò chả tới nhiều vùng quê trên đất nước ta. Thời Pháp thuộc, giò chả Ước Lễ đã nổi tiếng Hà Nội với nhà hàng Tân Việt. Tại Hà Đông có nhà hàng Tân Lợi khiến tiếng thơm giò chả Tân Ước khắp cả vùng quê lụa. Trải hàng trăm năm, con cháu của hai nhà hàng này tạo nên một uy tín rất lớn trong văn hoá ẩm thực nước ta.

Đến nay có hơn ba trăm hộ người Tân Ước mở nhà hàng giò chả ở các thành phố lớn trong nước và làm ăn rất phát đạt bằng nghề của làng quê mình. Tiêu biểu nhất là giò chả Việt Hương ở phố Huế, giò chả bà Tư Dục ở chợ Hôm, giò chả Hiền ở phố Lê Văn Hưu… (Hà Nội); và rất nổi tiếng ở Thành phố Hồ Chí Minh là nhà hàng giò chả Quốc Hường… Nhiều hộ gia đình người Tân Ước mở nhà hàng giò chả tại nước ngoài, tiêu biểu nhất là giò chả bà Tiến ở Mỹ, và một số nhà hàng giò chả tại Pháp của người Ước Lễ... Tự đáy lòng, những người Tân Ước làm nghề giò chả ở khắp nơi trong và ngoài nước luôn có hai điều tâm đắc nhất. Một là rất tự hào về nghề cổ truyền của quê hương, hai là luôn tìm cách làm cho giò chả Tân Ước ngày càng ngon hơn để nó mãi mãi là một nét văn hoá độc đáo của quê mình.

Người Kẻ Chảy nói riêng, Tân Ước nói chung, thời nào cũng mang trong tâm thức hình ảnh cuộc sống quê nhà thuở xa xưa. Chỉ cách một tầm đồng là tới sông Nhuệ, và từ đó có thể theo thuyền vào sông Tô buôn bán, trao đổi với Thăng Long - Kẻ Chợ. Sự giao thoa văn hóa ấy khiến người Tân Ước sớm biết tạo nên cách mặc đẹp, món ăn ngon, khiến quê hương họ trở thành vùng quê văn vật danh tiếng!

KL: Nói về văn hóa và truyền thống của xã Tân Ước thì rất nhiều nhưng trong thời gian một tiết học thì nội dung của bài xin tạm dừng lại ở một số nét đặc trưng riêng của từng thôn trong xã Tân Ước.

  1. 3.     Tân Ước trên con đường xây dựng “ Nông thôn mới”

Trên bước đường đổi mới, Đảng bộ xã Tân ước không ngừng tìm tòi, xây dựng những mô hình phát huy hiệu quả, tiềm năng thế mạnh của quê hương, không ngừng nâng cao tiềm lực kinh tế của địa phương, chăm lo đời sống nhân dân, tạo ra điều kiện cơ bản để tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa . Trên cơ sở kinh tế - xã hội phát triển, xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, củng cố nền quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân. Đồng thời xây dựng hệ thống chính trị, phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng, xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh, đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới. Trong thời gian tới Đảng bộ xã Tân Ước không ngừng phát huy những thành tựu đã đạt được và bài học kinh nghiệm, tập trung trí tuệ và nhân lực thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ cách mạng trong từng thời kỳ, góp phần xây dựng và bảo vệ vững chắc tổ quốc Việt Nam XHCN. Trước mắt tập trung lãnh đạo chỉ đạo xây dựng thành công Nông thôn mới trên quê hương Tân Ước giai đoạn 2010 - 2015.

. Bí thư Đảng ủy xã Tân Ước Nguyễn Như Ước cho biết, trong 19 tiêu chí xây dựng NTM, xã đã có 13 tiêu chí đạt và cơ bản đạt, trong đó, giao thông nông thôn được mở rộng và kiên cố hóa đạt chuẩn theo tiêu chí xây dựng NTM. Nhiều tuyến đường thôn, xóm của xã Tân Ước đã và đang được tập trung triển khai xây dựng khiến diện mạo nông thôn nơi đây ngày một khang trang.

 

Văn bản mới

QĐ số 493 /QĐ-SGDĐT ngày 24/4/

Quy chế quản lý văn bằng số 493 /QĐ-SGDĐT ngày 24/4/2020

Thời gian đăng: 28/04/2020

lượt xem: 71 | lượt tải:30

Theo QĐ 1612/QĐ-UBND

Kế hoạch tuyển sinh vào lớp 10 THPT năm học 2020 - 2021 của UBND TP Hà Nội.

Thời gian đăng: 21/04/2020

lượt xem: 65 | lượt tải:25

Số 1130/SGD&ĐT-CTTT

Công văn số 1130/SGDĐT- CTTT ngày 11/4/2020 v/v thực hiện các biện pháp cấp bách phòng, chống dịch bệnh Covid-19

Thời gian đăng: 11/04/2020

lượt xem: 73 | lượt tải:30

Số: KH-THCS TƯ

Kế hoạch dạy học học kỳ II (trong thời gian nghỉ phòng chống dịch Covid-19)

Thời gian đăng: 18/04/2020

lượt xem: 61 | lượt tải:28

CV số 1113/BGDĐT-GDTrH

Bộ GD-ĐT công bố chi tiết giảm tải chương trình cho học sinh các cấp

Thời gian đăng: 08/04/2020

lượt xem: 69 | lượt tải:26

KH giảm tải các môn học học kỳ II năm học 2019 - 2

KH HK II DẠY HỌC GIẢM TẢI DO NGHỈ DỊCH COVID 19

Thời gian đăng: 08/04/2020

lượt xem: 81 | lượt tải:32

Số: /KH-THCSTU

KH tăng cường dạy học qua internet trên truyền hình trong thời gian nghỉ phòng, chống dịch bệnh Covid- 19

Thời gian đăng: 08/04/2020

lượt xem: 71 | lượt tải:31

43/TB-UBND ngày 14/3/2019 của

Thông báo chỉ tiêu, điều kiện, tiêu chuẩn dự tuyển, nội dung, hình thức tuyển dụng viên chức huyện Thanh Oai năm 2019

Thời gian đăng: 17/04/2019

lượt xem: 208 | lượt tải:63

2019-CV-UBND-NV-307-Vv đôn đốc niêm yết công khai

NIÊM YẾT CÔNG KHAI CHỈ TIÊU TUYỂN DỤNG VIÊN CHỨC 2019

Thời gian đăng: 17/04/2019

lượt xem: 194 | lượt tải:169

1076/QĐ-UBND ngày 7/3/2019

Quyết định phê duyệt chỉ tiêu và ban hành kế hoạch tổ chức tuyển dụng viên chức TP Hà Nội năm 2019

Thời gian đăng: 17/04/2019

lượt xem: 203 | lượt tải:61
Quảng cáo 2
Thăm dò ý kiến

Cảm ơn bạn đã ghé thăm Website. Bạn biết trang của chúng tôi qua:

Video
Quảng cáo 1
Thống kê
  • Đang truy cập4
  • Máy chủ tìm kiếm1
  • Khách viếng thăm3
  • Hôm nay752
  • Tháng hiện tại19,193
  • Tổng lượt truy cập551,199
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây